Chỉ báo RSI (Relative Strength Index)
Chỉ số RSI giải quyết vấn đề của những dịch chuyển
bất thường và giải quyết nhu cầu về một biên độ giới hạn trên và dưới không đổi.
Chỉ số RSI được xác định theo công thức sau: RSI = 100 - 100/(1+RS) RS = Trung
bình giá đóng cửa tăng của x ngày/Trung bình giá đóng cửa giảm của x
ngày...
Chỉ số RSI giải quyết vấn đề của những dịch chuyển
bất thường và giải quyết nhu cầu về một biên độ giới hạn trên và dưới không đổi.
Chỉ số RSI được xác định theo công thức sau:
RSI = 100 - 100/(1+RS)
RS = Trung bình giá đóng cửa tăng của x ngày/Trung bình
giá đóng cửa giảm của x ngày
Số ngày được sử dụng trong tính toán là 14 ngày theo
đồ thị hàng ngày; sử dụng đồ thị tuần số ngày sẽ là 14 tuần. Để xác định được
các giá trị trung bình đi lên, chúng ta cộng tổng số điểm đạt được trong các
ngày giá tăng trong 14 ngày và chia tổng số đó cho 14. Để xác định giá trị trung
bình đi xuống, chúng ta cộng tổng số điểm bị mất trong 14 ngày giá giảm và chia
lại cho 14. Sau đó “cường độ tương đối - RS” được xác định bằng cách chia trung
bình giá tăng cho trung bình giá giảm. Giá trị RS này sau đó được đưa vào trong
công thức tính RSI. Số lượng ngày có thể thay đổi bằng cách thay đổi giá trị của
x.
Ví dụ minh họa:
Đường RSI (sử dụng RSI 14 ngày) trong trường hợp này
chúng ta có thể lấy 2 mức biên là 80 (overbought) và 20 (eoversold), biểu đồ đã
cho thấy RSI đang đi xuống khi gặp mức 80 như vậy giá sẽ không thể vượt hơn mức
trước đó và bạn nên mua khi giá rớt xuống tới lúc mà đường RSI chạm mức 30 (
chúng ta nên chọn 30 thay cho 20 trong trường hợp này). Tuy nhiên để rõ hơn thì
cần kết hợp với đường Stochastic Oscillator hay ADX.
Sử dụng RSI trong hệ thống mua bán (trading
system):
1. Các mức của RSI: 70% (thường dùng là 80%) là mức
mà nhà đầu tư bán quá nhiều (overbought), 30% (thường dùng là 20%) là mức mà nhà
đầu tư mua quá nhiều (oversold). Mua khi thị trường ở mức oversold và bán khi
thị trường ở overbought lưu ý chỉ áp dụng điều này cho 1 thời kỳ biến động còn
khi đang hình thành 1 xu hướng thì sẽ không đúng.
2. EMA như là vai trò của đường hỗ trợ hay kháng cự
(support or resistance). Mua khi RSI tăng lên trên EMA và bán khi RSI rơi xuống
dưới EMA. EMA là 1 tính hiệu trễ và thường đưa ra tín hiệu mua khi vượt qua thời
kỳ uptrend.
3. Bullish divergence (tín hiệu phân kỳ mua): tín
hiệu mua khi đường giá đang đi xuống trong khi RSI thì đang tăng, tương tự
bearish divergence (tín hiệu phân kỳ bán): tín hiệu bán khi đường giá tăng trong
khi đường RSi thì lại giảm. Mặt hạn chế của sự phân kỳ (divergence) là chúng cố
gắng báo trước 1 xu hướng đảo chiều thay vì xác định theo 1 xu hướng.
4. Dạng đồ thị: xu hướng, kháng cự/hỗ trợ, tam giác
(triangles), đầu-vai (head and shoulders) khi áp dụng RSI nó giống như đường dẫn
cho giá. Cái dở là dạng đồ thị: xu hướng, tam giá... là quan điểm cá nhân phụ
thuộc vào chủ quan của từng traders nên không thể sử dụng trong trading
system.
Bố cục của RSI và Bollinger Bands: Chúng ta áp dụng
Bollinger Bands (BB) để nghiên cứu chỉ báo RSI. Tín hiệu mua xảy ra khi RSI rớt
xuống dưới dải dưới của BB (lower BB), tín hiệu mua xuất hiện khi RSI tăng vượt
qua dải trên của BB (upper BB). Đây là những chỉ báo tương phản xu hướng vì
chúng ta cần phải sử dụng thêm vài bộ lọc của xu hướng. Chúng ta có thể thêm vào
chỉ báo MACD vào bộ lọc xu hướng như sau: nếu MACD > 0 thì xu hướng đi
lên.
Hình minh họa:
Không có nhận xét nào: